Ngọn Hải Đăng

Hôm nhận được thư của bác Phùng, bạn học của ba thuở chung trường Công Chánh Liên Khu 5, ba săm se hoài. Trong thư bác Phùng kể, bác đã bỏ công đi kiếm ba tôi nhiều năm, cuối cùng bác tìm về lại xóm cũ, cái địa chỉ duy nhất mà bác biết là xóm Thuận Thành, gần trường Đào Duy Từ tức là trường Hoàng Diệu ngày nay, nơi gia đình tôi sống trước 1973, một chú xe thồ tốt bụng biết sơ qua họ hàng gia đình tôi, ông đã chở bác đến nhà ông chú ruột tôi, từ đó bác mới có số phone và điện thoại của ba tôi ở Mỹ nên viết thư tay gởi thăm.

Thư đi thư lại đôi lần, kỷ niệm xưa như hiện về trong tâm trí ông lão tám mươi, ba tôi kể lể đủ thứ chuyện về người bạn này. Tôi thì chỉ nhớ, ngày xưa bác hay bắt tôi gọi bác là “Ba Phùng”, vì lúc mới lập gia đình, hai bác có sanh được một anh con trai đầu lòng, ít lâu sau má tôi có bầu, hai gia đình có hứa sẽ trở thành thông gia nếu má tôi sanh ra con gái, đứa bé ra đời là tôi. Bác cho đó là điềm duyên nợ nên khăng khăng đòi ba má tôi phải giữ đúng lời hứa. Thời chiến tranh, gia đình bác ở Quảng Ngãi làm ăn rất khá giả, tôi còn nhớ những lần hai bác ra Đà Nẵng thăm gia đình tôi, ở lại chơi vài hôm, bác trai thường xoa đầu tôi và nói “con dâu của ba, vòng tay thưa, rồi ba cho kẹo!” tôi chỉ nghe tới kẹo là vâng dạ liền, đâu có hiểu chuyện dâu rể, nợ duyên gì cho mệt. Đến năm 1975, nghe đâu gia đình Bác di tản vào Sài Gòn rồi lại về Quảng Ngãi mở hảng nước đá Kim Cương, làm ăn khá lắm. Năm 1977, tôi vào Quảng Ngãi thi đại học Tài chính thì đã không tìm được gia đình hai bác, sau đó nghe tin bác có cho mấy người con vượt biên, định cư đâu tận Canada. Gia đình tôi thì sa sút dần, không có chỗ đứng trong xã hội mới, má tôi vất vả lo cho chồng con, anh em tôi cũng bước những bước chân ra đời trong bấp bênh. Lời hứa năm xưa không ai buồn nhắc nhớ, cũng lặng lẻ trôi vào quá khứ.
Ba đưa tôi đọc lá thư mới nhất bác viết cho ba “Phùng đi tìm Tân nhiều năm, nhiều lần nhưng chẳng biết gia đình Tân ở đâu cả. Dạo Tân đi cải tạo, Phùng có tìm ra ĐN thăm một lần. Lúc đó hoàn cảnh gia đình Tân bi đát quá, nhà bị trưng thu, chị và các cháu ở trong một căn phòng chật chội. Hôm đó chị về quê nên Phùng không gặp, chỉ để lại một ít quà … nay tìm được bạn xưa, Phùng mừng hơn được trúng số lô độc đắc, bạn già chung lớp thuở xưa nay chẳng còn mấy người …” nét chữ của bác còn đẹp, ngay ngắn rõ ràng, ba tôi nói những người học trường kỹ thuật ngày xưa đều có nét chữ thẳng thớm, đẹp như in vậy đó. Tôi đọc lá thư và cảm đông cho tình bạn thâm niên giữa bác và ba tôi vô cùng. Bác tha thiết mời ba má tôi sang Canada thăm chơi. Thấy ba hơi ngần ngừ, tôi đùa “Bác Phùng lớn hơn ba hai tuổi chắc là yếu hơn rồi, ba phải đi thăm đại ca chớ!”. Nói vậy mà khi mua vé cho ba rồi lòng tôi không yên.
Đưa ba lên phi trường, hoàn tất việc gởi hành lý, căn dặn ba đủ điều trước khi nhân viên của phi trường đến phục vụ đưa ba vào máy bay. Trên đuờng trở về nhà, lòng tôi ngổn ngang trăm mối. Hình ảnh ba lo âu mở ra, xếp vào tấm vé may bay do tôi in ra từ computer ở phi trường, ánh mắt, tia nhìn đầy bất an của ba theo tôi suốt đoạn đường về. Ba tôi, một ông lão hơn tám mươi với đầy đủ những căn bệnh của người già, năm bảy loại thuốc phải uống thường xuyên hằng ngày đang một mình đi Canada thăm người bạn già gần bốn mươi năm chưa gặp mặt, làm sao tôi không lo cho đuợc?
Gần đây sức khỏe của ba giảm đi thấy rõ, làm việc gì cũng mau mệt. Thời tiết chưa kịp thay đổi là ba đã ho hen, sổ mũi, đau lưng, nhức mình. Uống thuốc tây ba hôm, chưa nhúc nhích gì ba đòi đi thăm thầy thuốc bắc, đem thuốc bắc về, uống một hai hôm ba chê thuốc bắc chậm rì, đưa ba đi châm cứu … Ai cũng biết đó là bịnh … già, có thuốc nào chửa được? Tôi thường an ủi ba, mấy người cùng cở tuổi ba, con thấy ba là nhất rồi, sơ sơ trong xóm này, từ Mỹ đến Việt Nam ba đều đứng nhất! Tận trong thâm tâm, tôi biết ba tôi đã yếu đi nhiều, nói như mấy người già hay nói là cuộc sống chỉ tính bằng ngày chứ không tính bằng năm, nghĩa là sống ngày nào hay ngày đó. Ba thích mua vé số, tuần nào cũng nộp vào quỹ “kiến thiết quốc gia” chừng hai chục đồng, ba muốn xây một ngôi chùa nơi quê nội. Mỗi buổi tối dò vé số không trúng đồng nào, ba chẳng tiếc, ngày mai cứ vui vẻ tiếp tục, ba nói là đi mua “hy vọng”.
Tôi còn nhớ ngày cha con tôi lên máy bay đi Mỹ mà lê thê lếch thếch như người ta dắt díu nhau đi kinh tế mới. Sợ những ngày đầu nơi xứ lạ không có đồ dùng trong nhà, ba tôi chuẩn bị đầy đủ từ cái nồi cơm điện, cái bình thủy chứa nước sôi cho đến những gói bột ngọt hiệu “Vifon”. Có người quen cho biết tiểu bang chúng tôi sắp định cư là một thành phố đang bắt đầu xây dựng, nhất là ngành đường sá, để phục vụ cho Thế Vận Hội Olympic mùa hè sắp tổ chức. Không biết ba nghĩ sao mà đi sắm cho mỗi đứa con một cái kiếng đen, để phòng bụi bặm. Mấy cha con dừng chân ở trạm trung chuyển là phi trường Hồng Kông, lơ ngơ như một bầy hề cổ lổ sỉ, với ba lô, giỏ xách lỉnh kỉnh, nồi cơm điện lủng lẳng đeo bên lưng và đôi kính đen chểm chệ trên khuôn mặt. Tánh chu đáo quá mức của ba đã biến chị em tôi trông giống như một đàn hiệp sĩ mù giữa phi trường Hồng Kông tráng lệ, mười mấy năm về trước!
Ba tôi lúc nào cũng ước ao phải cho con ăn học đến nơi đến chốn, nên sau khi đám con vì gia cảnh đã thất cơ lở vận, không đươc bước vào cổng trường đại học, sang đây ba tôi dệt nên những mơ ước cho tương lai các con thênh thang, ngàn lối … Trong mấy tháng đầu được hưởng trợ cấp, hằng ngày chúng tôi đến trường học nghe, học nói, học cách giao tiếp với người bản xứ, hết tiêu chuẩn đó, ba đứa lớn nhất nhảy ra kiếm việc làm. Chưa có xe hơi nên chúng tôi phải đón xe bus, đi tàu điện hoặc may mắn hơn là nhờ người quen làm cùng chỗ chở đi làm rồi trả tiền xăng lại. Mấy chị em đi làm, đứa ca sáng đứa ca chiều … về đến nhà mệt mỏi đã có ba lo cơm nước, món ăn bổ dưỡng và dễ nấu nhất là “trứng gà bảy món” và “soup mì gói”, những ai mơí đến Mỹ đều rành. Sau này ba tôi mới thố lộ, “ngày đó thấy mấy chị em cặm cụi đi làm, toàn là những công việc nặng nhọc, nhiều buổi sáng nhìn mấy đứa con lục đục dậy sớm bới cơm, lội tuyết đón xe đi làm ba cứ tự hỏi, không biết mình đưa các con sang đây có phải là một quyết định sai lầm hay không?”
Cuộc sống hối hả phương này khiến chúng tôi phải quay cuồng, ba băn khoăn là phải. Cả nhà chỉ có đứa con gái út là đến trường, mấy đứa lớn phải đi làm để lo tiền nhà, tiền xe, tiền chi phí linh tinh. Dần dần, thằng con trai cũng vừa đi làm vừa đi học, kiếm cái chứng chỉ về kỹ thuật, tiền lương được cao hơn một chút và công việc đở nặng nhọc, ba mừng. Rồi đứa em gái út cũng tốt nghiệp đại học, đứa kế lập gia đình. Tôi thì theo lời khuyên và sự hướng dẫn của ba cũng trở lại trường, vừa đi làm vừa đi học. Khi có cơ hội thay đổi công việc làm trong công ty từ những khâu nặng nhọc sang công việc cần có chút kiến thức. Công ty nâng cấp, mở mang qui mô hơn, tôi có được hai chọn lựa, hoặc trở thành thư ký lo việc sắp đặt giấy tờ hồ sơ của khâu KCS; hoặc một kỹ thuật viên, chuyên đọc bản vẽ, kiểm tra hình ảnh màu sắc của những bản in trước khi làm thành film đưa qua khâu ất loát. Ba đã cho tôi lời khuyên là nên chọn việc gì có chút kỹ thuật thì mới bền bỉ và như một định mệnh gắn liền với đời sống của tôi mười mấy năm nay đó là công việc đọc bản vẽ ở một nhà máy in lớn, kỹ thuật cao. Công ty tôi làm chuyên về việc design, viết chương trình và in những loại vé số cho nhiều nước trên thế giới. Nếu không có ý kiến hướng dẫn của ba thì chắc tôi không có sự chọn lựa đúng đắn như thế. Tôi yêu thích và an lòng với công việc này, niềm đam mê nghề nghiệp chính là chìa khóa giúp tôi đứng vững vàng giữa một x ã hội đầy bất trắc này trong thời kỳ kinh tế suy thoái trên toàn cầu. Bởi vì khi làm ăn càng sa sút, người ta càng thích mua vé số, nói như ba tôi, mua hy vọng. Có ai mà không mong bỏ ra một đồng để được trúng một triệu? Khi việc làm ăn của tôi đã ổn định, ba hướng dẩn tôi tham gia sinh hoạt cộng đồng, làm việc từ thiện, khuyến khích tôi viết lách, món ăn tinh thần mà ba biết tôi đam mê từ bé. Chính ba là người đã góp ý với tôi từng câu văn, giải thích từng từ ngữ Hán Việt đã mai một trong tôi kể từ dạo rời trường xa lớp … và chính ba đã cặm cụi sửa cho tôi từng lỗi chính tả, nhắc nhở tôi từng dấu chấm dấu phẩy … không phải từ những ngày tôi mới chập chững bậc tiểu học mà mãi đến bây giờ. Ba cũng là người cùng tôi hô hào, bình luận những trận World Cup đầy kịch tính, hấp dẫn.
Nhiều người nói tánh tôi rất giống ba tôi, lúc nào cũng có những suy nghĩ thật lạc quan, vui vẻ. Có lẻ chính điều đó giúp ba tôi vượt qua được mười mấy năm khổ ải nơi trại cải tạo sau năm 1975, giúp tôi vượt qua được nhiều cay đắng truân chuyên, bước thấp bước cao chênh vênh khi ra đời với hai bàn tay trắng. Ngày nay ba tôi đã già và chính tôi cũng không còn trẻ, điều may mắn là tôi vẫn còn được sống bên cạnh ba, chở ba đi đây đi đó khi cần, nhìn thấy những chuyện lẩm cẩm của ba hàng ngày, thỉnh thoảng nấu cho ba vài món ăn mà ba ưa thích hay chịu khó ngồi nghe ba kể đi kể lại những câu chuyện xưa hơn trái đất. Tôi không cảm thấy nhàm chán mà còn học được ở ba nhiều điều hay, nhiều suy nghĩ nói ra thì nghe rất đơn giản nhưng đó chính là kim chỉ nam cho cuộc đời mà tôi may mắn nhận được từ người cha kính yêu của mình.
Ba tôi không những là một người cha gương mẫu mà còn là một mẫu người cư xử với bạn bè chí tình chí nghĩa. Nhìn ba săm se lá thư của bác Phùng, bữa ăn nào ba cũng kể lể về những kỷ niệm thời đi học của hai người, chúng tôi thật ngưỡng mộ cho tình bằng hữu vong niên của ba và bác. Thành công lớn nhất của một người đàn ông mà ba tôi nên tự hào, trên cả sự nghiệp đã dang dở theo vận nước, ba là một “đấng phu quân” tuyệt vời, tôi nhìn thấy được điều này trong cách má chăm sóc ba hàng ngày, nhất là trong ánh mắt má tôi mỗi khi bà nói về ông. Đã hơn 50 năm chung sống, gừng cay muối mặn cũng đã từng chia sớt, vinh hoa phú quí có rồi cũng như không. Giờ này ba má tôi còn đây, ngày ngày hủ hỉ bên nhau, trẻ thương nhan sắc, già thương lụm cụm chính là ba má, hai chiếc bóng mát của đời tôi.
Tôi thật không biết lời gì để nói lên lòng biết ơn ba, nhiều khi tôi thắc mắc với lời ví von về công ơn sâu nặng của người cha qua câu ca dao Việt Nam: Công cha như núi Thái Sơn, ngọn núi Thái bên Tàu, dẫu cao cách mấy thì chắc cũng có thể khắc phục, leo tới đỉnh. Trong lòng tôi, ba là ngọn hải đăng, soi đường cho những con tàu ra cửa biển. Lúc còn nhỏ, hình ảnh ba là tấm gương sáng cho chúng tôi noi theo. Chúng tôi ra đời, ba như ngọn đèn sáng chỉ lối, hướng chúng tôi đi đến nơi về đến chốn. Khi gặp giông bão trên đường đời, khi lạc lối, nhìn về hướng hải đăng chúng tôi sẽ biết chốn quay về. Ba là mái hiên vững vàng che chở nắng mưa, là ngọn gió làm mát dịu tâm hồn tôi những trưa hè, là những câu văn tôi đọc hoài không chán, là cả một cuộc đời mà tôi hạnh phúc có được.
Tôi nguyện cầu sao cho ba má tôi có những ngày xế bóng khoẻ khoắn, bình yên bên nhau để chúng tôi còn có cơ hội chăm sóc đáp đền công ơn trời biển của ba má.
Đêm đêm thắp ngọn đèn trời
Cầu mong cha mẹ sống đời với con
Happy Father’s day, Ba! Ngọn Hải Đăng của đời con.

Nguyễn Diệu Anh Trinh (6/2010)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s